Jun 9, 2012

Nếu vùng đất Đồng Tháp xưa nổi tiếng hoang vu, thì giờ đây dễ hút hồn du khách bởi thiên nhiên lạ mắt và địa danh có một không hai.

Từ đầu năm đến nay, các điểm du lịch ở tỉnh Đồng Tháp đã đón trên 730.000 lượt khách đến tham quan du lịch, trong đó có trên 19.000 lượt khách quốc tế. Tổng doanh thu du lịch của tỉnh đạt 81 tỷ đồng, tăng 18,28% so với cùng kỳ năm trước.

Hái sen ở Đồng Tháp Mười.
Vùng đất Đồng Tháp Mười ngày xưa nổi tiếng hoang vu với lắm bưng, trần, đìa, bàu, với bạt ngàn đưng, lác, năng, sen, súng và lau, sậy,..; là giang sơn của các loài động vật hoang dại như: rắn, rùa, chuột ếch, chim muông, cua, cá sấu.

Giờ đây về thăm Đồng Tháp du khách như trở về với cội nguồn thiên nhiên bởi bầu không khí trong lành, mát mẻ của những cánh đồng lúa phì nhiêu, đi trên những chiếc xuồng ba lá trên sông rạch để đến với khu di tích cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, đài liệt sĩ, khu di tích Gò Tháp, di tích kiến trúc cổ Kiến An Cung, vườn chim thiên nhiên lạ mắt ở Tháp Mười, vườn sếu quý hiếm ở Tam Nông, khu căn cứ Xẻo Quít, làng hoa kiểng Tân Qui Đông, các vườn cây ăn trái Cao Lãnh, Châu Thành, Lai Vung, Thạnh Hưng...

Khu Di tích cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc với diện tích 3,6 ha nằm cạnh ngay trong nội ô của TP.Cao Lãnh.Khu di tích là công trình ghi ơn cụ Nguyễn Sinh Sắc-nguời đã sinh thành ra vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam -chủ tịch Hồ Chí Minh. Công trình được xây dựng được khánh thành ngày 13/12/1977.

Toàn bộ khu di tích chia làm ba khu vực : Khu mộ cụ Phó bảng, nhà sàn Bác Hồ và ao sen. Bên trong khu mộ có nhà trưng bày về cuộc đời của Cụ Nguyễn Sinh Sắc. Tất cả những công trình nơi đây không những được xây dựng rất kỳ công mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Vòm mộ hướng về phía Đông, là một cánh hoa sen cách điệu, có dáng dấp hình bàn tay xoè úp xuống, trên là 9 con rồng cách điệu tượng trưng cho hình ảnh nhân dân đồng bằng sông Cửu Long chở che.

Ngôi mộ cụ Phó bảng được ốp đá hoa cương, núm mộ hình chữ nhật màu xám tro. Phía trước vòm mộ là hồ sen hình ngôi sao năm cánh, giữa hồ sừng sững một đài sen trắng cách điệu cao 6,5 m, tượng trưng cho cuộc đời thanh bạch của cụ Nguyễn Sinh Sắc và cũng là biểu tượng cho quê hương Đồng Tháp yêu quý vươn thẳng giữa lòng Tổ quốc Việt Nam.
Tổ ong trong vườn quốc gia tràm chim.
Bênh cạnh Khu mộ Cụ là Nhà Sàn Bác Hồ được thiết kế đúng theo tỷ lệ với ngôi nhà sàn Bác ở Hà Nội, để cho những người dân ở miền Nam không có điều kiện ra miền Bắc có thể biết được ngôi nhà của Bác.Khung cảnh nơi đây mang lại cho bạn một cảm giác thư thái nhẹ nhõm với hàng trăm loại cây trái, hoa, cây cảnh quý hiếm được bà con địa phương và các tỉnh bạn hiến tặng.
Hằng năm cứ vào ngày 27/10 âm lịch, bà con xa gần ở các nơi hội tụ về đây tồ chức lễ giỗ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc trong không khí trang nghiêm, trọng thể, đông vui như một ngày hội lớn mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.

Cùng với đó ở Đồng Tháp, các điểm du lịch sinh thái ở Đồng Tháp đang ngày càng hấp dẫn khách tham quan do môi trường sinh thái tự nhiên trong lành với rất nhiều loài động vật quý hiếm.

Trong đó phải kể đến Vườn Quốc gia Tràm Chim - Tam Nông đã trở thành khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế thứ tư của Việt Nam và là khu Ramsar thứ 2.000 của thế giới.

Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp cùng với hệ sinh thái vô cùng phong phú khoảng 130 loài thực vật khác nhau,đồng thời nơi này cũng chính là nơi cư trú của hàng trăm loài động vật có xương sống, hàng chục loài cá và hơn 198 loài chim nước, chiếm khoảng 1/4 số loài chim có ở Việt Nam. Trong số đó có nhiều loài chim quý hiếm trên thế giới như ngan cánh trắng, te vàng, bồ nông, già đãy Java và đặc biệt là sếu cổ trụi, hay còn gọi là sếu đầu đỏ. Chúng được xếp vào sách đỏ thế giới cần được bảo vệ vì đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới. Hằng năm từ cuối tháng 12 đến đầu tháng 5 là lúc đàn sếu bay về Tràm Chim cư trú. Đến đây vào thời gian này, bạn sẽ chứng kiến từng đàn sếu đầu đỏ bay về hòa cùng các loài chim khác để kiếm ăn.
Đặc sản trái cây ở vùng sông nước Cửu Long.

Được xem là lá phổi của Đồng Tháp Mười, rừng tràm Gáo Giồng có diện tích khoảng 1.700 ha, trong đó có 250 ha rừng nguyên sinh, với những bưng trấp, lung, bàu đầy sen, súng, lau sậy,... sinh sống và làm tổ quanh năm như : trích mồng đỏ, cồng cộc, le le, diệc, vịt trời… ; nhiều hơn hết vẫn là đàn cò trắng hàng chục nghìn con khiến rừng tràm này được xem là vườn cò lớn nhất hiện nay ở vùng Đồng Tháp Mười.

Vào mùa nước nổi, trên các cánh đồng,hàng nghìn cánh cò trắng bay lượn trên nền tràm xanh tươi tạo thành một khung cảnh ngoạn mục. Còn các lung sen lại là nơi quy tụ hàng nghìn con trích mồng đỏ về đây thư thả nhổ những cọng năn tươi non, thỉnh thoảng cất tiếng gáy kèm theo những vũ điệu tuyệt đẹp.Đến với Gáo Giồng, không những nghe chim hót trên cây, bạn còn được nghe tiếng cá quẫy đuôi mời chào dưới nước.

Thuỷ sản ở đây vô cùng phong phú với nhiều loài cá như cá lóc, cá bông, cá sặc, cá chốt, cá lăng, cá bống, cá nhái… ; đặc biệt là loài cá linh từ Biển Hồ Campuchia vào mỗi mùa nước lên lại lũ lượt kéo về từng đàn đông vui…
Xuồng ba lá hấp dẫn du khách ở Đồng Tháp.

Gáo Giồng đẹp nhất vào mùa nước nổi. Lúc ấy, nước từ sông Mêkông kéo về phủ ngập cánh đồng, biến Gáo Giồng thành một ốc đảo giữa trời nước mênh mông, rực lên màu vàng hoa điên điển, màu tím hoa súng pha lẫn sắc hồng của những cánh sen, màu xanh mướt của rừng tràm.

Đến đây, du khách có thể thưởng thức những món ăn đậm chất Nam Bộ, nhâm nhi rượu đặc sản từ rượu nếp pha với mật ong tràm, ngả mình trên chiếc võng đong đưa, đón những luồng gió mát rượi, bạn sẽ cảm nhận hết sự thanh bình, yên ả nhưng cũng không kém phần độc đáo của khu du lịch sinh thái Gáo Giồng. Theo Ban Quản lý Rừng tràm Gáo Giồng, vườn cò ở Gáo Giồng hiện có số lượng cò trắng lớn nhất ở vùng Đồng Tháp Mười, đặc biệt năm nay có hàng nghìn con cò ốc về sống làm tổ sinh sản - đông nhất từ trước đến nay.
Hệ sinh thái ở Đồng Tháp thiên đường của chim muông cỏ cây...

Cò ốc thuộc họ hạc, tên khoa học là Anastomus oscitans, có trọng lượng từ 1-1,2kg/con, loài này nằm trong sách đỏ Việt Nam vì có nguy cơ tuyệt chủng.Hiện, Ban quản lý đang tăng cường bảo vệ loài chim quý này để phục vụ khách tham quan.

Để phát huy tiềm năng du lịch, tỉnh Đồng Tháp triển khai kế hoạch phát triển du lịch đến năm 2015, với mục tiêu mỗi năm đón 2,1 triệu lượt khách đến tham quan du lịch, trong đó có 47.000 lượt khách quốc tế, 553.000 lượt khách nội địa, 1,5 triệu lượt khách hành hương, doanh thu du lịch đạt 360 tỷ đồng.
(Theo Đất Việt)

Những chốn kỳ thú khó cưỡng ở Đồng Tháp

Nếu vùng đất Đồng Tháp xưa nổi tiếng hoang vu, thì giờ đây dễ hút hồn du khách bởi thiên nhiên lạ mắt và địa danh có một không hai.

Từ đầu năm đến nay, các điểm du lịch ở tỉnh Đồng Tháp đã đón trên 730.000 lượt khách đến tham quan du lịch, trong đó có trên 19.000 lượt khách quốc tế. Tổng doanh thu du lịch của tỉnh đạt 81 tỷ đồng, tăng 18,28% so với cùng kỳ năm trước.

Hái sen ở Đồng Tháp Mười.
Vùng đất Đồng Tháp Mười ngày xưa nổi tiếng hoang vu với lắm bưng, trần, đìa, bàu, với bạt ngàn đưng, lác, năng, sen, súng và lau, sậy,..; là giang sơn của các loài động vật hoang dại như: rắn, rùa, chuột ếch, chim muông, cua, cá sấu.

Giờ đây về thăm Đồng Tháp du khách như trở về với cội nguồn thiên nhiên bởi bầu không khí trong lành, mát mẻ của những cánh đồng lúa phì nhiêu, đi trên những chiếc xuồng ba lá trên sông rạch để đến với khu di tích cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, đài liệt sĩ, khu di tích Gò Tháp, di tích kiến trúc cổ Kiến An Cung, vườn chim thiên nhiên lạ mắt ở Tháp Mười, vườn sếu quý hiếm ở Tam Nông, khu căn cứ Xẻo Quít, làng hoa kiểng Tân Qui Đông, các vườn cây ăn trái Cao Lãnh, Châu Thành, Lai Vung, Thạnh Hưng...

Khu Di tích cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc với diện tích 3,6 ha nằm cạnh ngay trong nội ô của TP.Cao Lãnh.Khu di tích là công trình ghi ơn cụ Nguyễn Sinh Sắc-nguời đã sinh thành ra vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam -chủ tịch Hồ Chí Minh. Công trình được xây dựng được khánh thành ngày 13/12/1977.

Toàn bộ khu di tích chia làm ba khu vực : Khu mộ cụ Phó bảng, nhà sàn Bác Hồ và ao sen. Bên trong khu mộ có nhà trưng bày về cuộc đời của Cụ Nguyễn Sinh Sắc. Tất cả những công trình nơi đây không những được xây dựng rất kỳ công mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Vòm mộ hướng về phía Đông, là một cánh hoa sen cách điệu, có dáng dấp hình bàn tay xoè úp xuống, trên là 9 con rồng cách điệu tượng trưng cho hình ảnh nhân dân đồng bằng sông Cửu Long chở che.

Ngôi mộ cụ Phó bảng được ốp đá hoa cương, núm mộ hình chữ nhật màu xám tro. Phía trước vòm mộ là hồ sen hình ngôi sao năm cánh, giữa hồ sừng sững một đài sen trắng cách điệu cao 6,5 m, tượng trưng cho cuộc đời thanh bạch của cụ Nguyễn Sinh Sắc và cũng là biểu tượng cho quê hương Đồng Tháp yêu quý vươn thẳng giữa lòng Tổ quốc Việt Nam.
Tổ ong trong vườn quốc gia tràm chim.
Bênh cạnh Khu mộ Cụ là Nhà Sàn Bác Hồ được thiết kế đúng theo tỷ lệ với ngôi nhà sàn Bác ở Hà Nội, để cho những người dân ở miền Nam không có điều kiện ra miền Bắc có thể biết được ngôi nhà của Bác.Khung cảnh nơi đây mang lại cho bạn một cảm giác thư thái nhẹ nhõm với hàng trăm loại cây trái, hoa, cây cảnh quý hiếm được bà con địa phương và các tỉnh bạn hiến tặng.
Hằng năm cứ vào ngày 27/10 âm lịch, bà con xa gần ở các nơi hội tụ về đây tồ chức lễ giỗ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc trong không khí trang nghiêm, trọng thể, đông vui như một ngày hội lớn mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.

Cùng với đó ở Đồng Tháp, các điểm du lịch sinh thái ở Đồng Tháp đang ngày càng hấp dẫn khách tham quan do môi trường sinh thái tự nhiên trong lành với rất nhiều loài động vật quý hiếm.

Trong đó phải kể đến Vườn Quốc gia Tràm Chim - Tam Nông đã trở thành khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế thứ tư của Việt Nam và là khu Ramsar thứ 2.000 của thế giới.

Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp cùng với hệ sinh thái vô cùng phong phú khoảng 130 loài thực vật khác nhau,đồng thời nơi này cũng chính là nơi cư trú của hàng trăm loài động vật có xương sống, hàng chục loài cá và hơn 198 loài chim nước, chiếm khoảng 1/4 số loài chim có ở Việt Nam. Trong số đó có nhiều loài chim quý hiếm trên thế giới như ngan cánh trắng, te vàng, bồ nông, già đãy Java và đặc biệt là sếu cổ trụi, hay còn gọi là sếu đầu đỏ. Chúng được xếp vào sách đỏ thế giới cần được bảo vệ vì đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới. Hằng năm từ cuối tháng 12 đến đầu tháng 5 là lúc đàn sếu bay về Tràm Chim cư trú. Đến đây vào thời gian này, bạn sẽ chứng kiến từng đàn sếu đầu đỏ bay về hòa cùng các loài chim khác để kiếm ăn.
Đặc sản trái cây ở vùng sông nước Cửu Long.

Được xem là lá phổi của Đồng Tháp Mười, rừng tràm Gáo Giồng có diện tích khoảng 1.700 ha, trong đó có 250 ha rừng nguyên sinh, với những bưng trấp, lung, bàu đầy sen, súng, lau sậy,... sinh sống và làm tổ quanh năm như : trích mồng đỏ, cồng cộc, le le, diệc, vịt trời… ; nhiều hơn hết vẫn là đàn cò trắng hàng chục nghìn con khiến rừng tràm này được xem là vườn cò lớn nhất hiện nay ở vùng Đồng Tháp Mười.

Vào mùa nước nổi, trên các cánh đồng,hàng nghìn cánh cò trắng bay lượn trên nền tràm xanh tươi tạo thành một khung cảnh ngoạn mục. Còn các lung sen lại là nơi quy tụ hàng nghìn con trích mồng đỏ về đây thư thả nhổ những cọng năn tươi non, thỉnh thoảng cất tiếng gáy kèm theo những vũ điệu tuyệt đẹp.Đến với Gáo Giồng, không những nghe chim hót trên cây, bạn còn được nghe tiếng cá quẫy đuôi mời chào dưới nước.

Thuỷ sản ở đây vô cùng phong phú với nhiều loài cá như cá lóc, cá bông, cá sặc, cá chốt, cá lăng, cá bống, cá nhái… ; đặc biệt là loài cá linh từ Biển Hồ Campuchia vào mỗi mùa nước lên lại lũ lượt kéo về từng đàn đông vui…
Xuồng ba lá hấp dẫn du khách ở Đồng Tháp.

Gáo Giồng đẹp nhất vào mùa nước nổi. Lúc ấy, nước từ sông Mêkông kéo về phủ ngập cánh đồng, biến Gáo Giồng thành một ốc đảo giữa trời nước mênh mông, rực lên màu vàng hoa điên điển, màu tím hoa súng pha lẫn sắc hồng của những cánh sen, màu xanh mướt của rừng tràm.

Đến đây, du khách có thể thưởng thức những món ăn đậm chất Nam Bộ, nhâm nhi rượu đặc sản từ rượu nếp pha với mật ong tràm, ngả mình trên chiếc võng đong đưa, đón những luồng gió mát rượi, bạn sẽ cảm nhận hết sự thanh bình, yên ả nhưng cũng không kém phần độc đáo của khu du lịch sinh thái Gáo Giồng. Theo Ban Quản lý Rừng tràm Gáo Giồng, vườn cò ở Gáo Giồng hiện có số lượng cò trắng lớn nhất ở vùng Đồng Tháp Mười, đặc biệt năm nay có hàng nghìn con cò ốc về sống làm tổ sinh sản - đông nhất từ trước đến nay.
Hệ sinh thái ở Đồng Tháp thiên đường của chim muông cỏ cây...

Cò ốc thuộc họ hạc, tên khoa học là Anastomus oscitans, có trọng lượng từ 1-1,2kg/con, loài này nằm trong sách đỏ Việt Nam vì có nguy cơ tuyệt chủng.Hiện, Ban quản lý đang tăng cường bảo vệ loài chim quý này để phục vụ khách tham quan.

Để phát huy tiềm năng du lịch, tỉnh Đồng Tháp triển khai kế hoạch phát triển du lịch đến năm 2015, với mục tiêu mỗi năm đón 2,1 triệu lượt khách đến tham quan du lịch, trong đó có 47.000 lượt khách quốc tế, 553.000 lượt khách nội địa, 1,5 triệu lượt khách hành hương, doanh thu du lịch đạt 360 tỷ đồng.
(Theo Đất Việt)

Jun 2, 2012

Nguồn: http://yume.vn/news/tam-tinh/tan-man-cuoc-song/bach-khoa-huong.35A98F1C.html

Bách Khoa vào hè theo những cơn dài mưa ngập lối, ừ thì mưa... Bỗng thấy tên ngôi trường mà mình tôi gắn bó hơn ba năm nay sao bình dị và thân thương đến lạ. Những dãy nhà cao thấp tồn tại hơn nửa thế kỉ, những chiếc áo xanh âm thầm, những góc khuất ghế đá dưới hàng cây, những dãy bàn gỗ cũ mèm luôn chật người ngồi và những hàng lim thân to vừa hai người ôm. Những cây lim ấy, đứng trên lầu 6 nhà B4 ta như nhìn thấy một dải vàng tươi bắt ngang trời vào đầu những ngày nắng sớm, gió trên không thâm trầm lướt nhẹ qua những ngọn cây vàng mang theo hương thơm mơ hồ nào không hiểu nhưng hẳn nhiên là một thứ hương làm se sắt lòng người, nếu bất chợt sung sướng thì có lẽ ta gọi ngay đó là Bách Khoa hương. Những giờ giải lao, thích ra ngoài cố hít hà chút hương thơm thân thuộc, phút chốt bỗng quên ngay những bài toán khó!
Rồi mưa ngang qua, những chùm hoa lim rơi lất phất từng đợt, như tấm thảm lâu ngày rũ bỏ những bụi vàng, chảy thành dòng theo mé sân bóng thành một đường viền đọng lại cuối con đường ngập lá. Có một lối nhỏ ngắn chéo ngang từ thư viện đến Khoa Xây dựng nay bỗng mọc toàn hoa dại. Giữa lớp cỏ xanh mởn sau vài trận mưa, lốm đốm những cánh hoa nhỏ nhẹ phơn phớt vàng, ngày qua từ tốn thêu dệt tấm thảm xanh ấy một sắc nồng nàn hiếm có. Hoa vươn lên từ đất, hoa bay xuống từ trời:
“Bấy nhiêu hoa vàng, tôi làm gì với bấy nhiêu hoa?”

Bách Khoa vào chiều một cách xa lạ, như cái chạm khẽ của những ngày mưa đầubên ô cửa sổ khi cái chớm lạnh hanh khô ùa về trong lặng lẽ, cô bạn cũ lâu ngày không gặp “xin cái hẹn chàng kỹ sư” trước cổng trường. Cô lòng vòng mãi, ly sting làm sắc đỏ nhạt dần giữa nắng chiều vương vãi, cô nói không hiểu sao lại muốn gặp một ai đến thế, đơn giản là ngồi ngắm phố phường, rồi nghe ai đó bâng quơ vài giọng văn mượt mà, thế thôi... tôi cười... Cuộc sống này đơn giản thế sao, đó có phải là lúc thấy thật yếu lòng của trong sâu thẳmnhững cô cậu tuổi đôi mươi bắt đầu tìm thấy lối đi riêng cho mình trên đường đời tưởng chừng không ngơi nghỉ, tôi như kẻ bị bỏ bùa mê giữa bộn bề cảm xúc, rõ ràng là không có gió mà sao tôi thấy sợi tóc mây non nớt của cô hoài phơ phất, có điều gì huyền hoặc trong đôi mắt đen láy của người con gái tuổi hai mươi này, tôi không thể hiểu nhưng sao tâm trí lâng lâng khó tả?
... Tìm đâu sự bâng khuâng bất chợt thế?
- Im lặng chút coi
- Làm gì
- Ngắm phố
- Không phải muốn gặp người ta sao
- Thế đấy, rõ ràng là trời rất trong, cũng chẳng phải là lúc để bắt đầu lại, không phải mọi thứ luôn ngừng rơi đấy sao?
- Thôi cái giọng điệu văn chương đó đi!
Sinh viên Bách Khoa thường không khoa trương, ừ thì vốn dĩ đó là cái bản chất của dân kĩ thuật.

Bách Khoa hương

Nguồn: http://yume.vn/news/tam-tinh/tan-man-cuoc-song/bach-khoa-huong.35A98F1C.html

Bách Khoa vào hè theo những cơn dài mưa ngập lối, ừ thì mưa... Bỗng thấy tên ngôi trường mà mình tôi gắn bó hơn ba năm nay sao bình dị và thân thương đến lạ. Những dãy nhà cao thấp tồn tại hơn nửa thế kỉ, những chiếc áo xanh âm thầm, những góc khuất ghế đá dưới hàng cây, những dãy bàn gỗ cũ mèm luôn chật người ngồi và những hàng lim thân to vừa hai người ôm. Những cây lim ấy, đứng trên lầu 6 nhà B4 ta như nhìn thấy một dải vàng tươi bắt ngang trời vào đầu những ngày nắng sớm, gió trên không thâm trầm lướt nhẹ qua những ngọn cây vàng mang theo hương thơm mơ hồ nào không hiểu nhưng hẳn nhiên là một thứ hương làm se sắt lòng người, nếu bất chợt sung sướng thì có lẽ ta gọi ngay đó là Bách Khoa hương. Những giờ giải lao, thích ra ngoài cố hít hà chút hương thơm thân thuộc, phút chốt bỗng quên ngay những bài toán khó!
Rồi mưa ngang qua, những chùm hoa lim rơi lất phất từng đợt, như tấm thảm lâu ngày rũ bỏ những bụi vàng, chảy thành dòng theo mé sân bóng thành một đường viền đọng lại cuối con đường ngập lá. Có một lối nhỏ ngắn chéo ngang từ thư viện đến Khoa Xây dựng nay bỗng mọc toàn hoa dại. Giữa lớp cỏ xanh mởn sau vài trận mưa, lốm đốm những cánh hoa nhỏ nhẹ phơn phớt vàng, ngày qua từ tốn thêu dệt tấm thảm xanh ấy một sắc nồng nàn hiếm có. Hoa vươn lên từ đất, hoa bay xuống từ trời:
“Bấy nhiêu hoa vàng, tôi làm gì với bấy nhiêu hoa?”

Bách Khoa vào chiều một cách xa lạ, như cái chạm khẽ của những ngày mưa đầubên ô cửa sổ khi cái chớm lạnh hanh khô ùa về trong lặng lẽ, cô bạn cũ lâu ngày không gặp “xin cái hẹn chàng kỹ sư” trước cổng trường. Cô lòng vòng mãi, ly sting làm sắc đỏ nhạt dần giữa nắng chiều vương vãi, cô nói không hiểu sao lại muốn gặp một ai đến thế, đơn giản là ngồi ngắm phố phường, rồi nghe ai đó bâng quơ vài giọng văn mượt mà, thế thôi... tôi cười... Cuộc sống này đơn giản thế sao, đó có phải là lúc thấy thật yếu lòng của trong sâu thẳmnhững cô cậu tuổi đôi mươi bắt đầu tìm thấy lối đi riêng cho mình trên đường đời tưởng chừng không ngơi nghỉ, tôi như kẻ bị bỏ bùa mê giữa bộn bề cảm xúc, rõ ràng là không có gió mà sao tôi thấy sợi tóc mây non nớt của cô hoài phơ phất, có điều gì huyền hoặc trong đôi mắt đen láy của người con gái tuổi hai mươi này, tôi không thể hiểu nhưng sao tâm trí lâng lâng khó tả?
... Tìm đâu sự bâng khuâng bất chợt thế?
- Im lặng chút coi
- Làm gì
- Ngắm phố
- Không phải muốn gặp người ta sao
- Thế đấy, rõ ràng là trời rất trong, cũng chẳng phải là lúc để bắt đầu lại, không phải mọi thứ luôn ngừng rơi đấy sao?
- Thôi cái giọng điệu văn chương đó đi!
Sinh viên Bách Khoa thường không khoa trương, ừ thì vốn dĩ đó là cái bản chất của dân kĩ thuật.

May 25, 2012

Lời giới thiệu:
Chào các bạn, đất nước ta 90% là nông nghiệp. Thôn quê Việt nam ẩn chứa nhiều thú vị mà nhiều người vẫn chưa biết. Laonong may mắn sinh ra và lớn lên ở nông thôn Nam bộ nên cũng biết nhiều điều về vùng đất trù phú này.

- Dân gian có câu: " Cu kêu 3 tiếng cu kêu, mau mau tới Tết dựng nêu ăn chè". Hình ảnh chú chim cu gắn liền với sự êm đềm của thôn quê Nam bộ, vậy bạn đã biết gì về chú chim hiền lành này? Bạn có biết tại sao người ta nói những người đi gác (bẩy) cu là ngu?
- Các bạn ăn chuối hàng ngày vậy có biết cây chuối ra sao, trồng thế nào? và nhất là bí quyết chọn mua chuối ngon, không bơm thuốc thế nào?
- Bạn ăn cá hàng ngày vậy bạn có biết cách bắt cá ở nông thôn ra sao? Bạn từng nghe nói cá dưới nước bổng dưng nhảy lên bờ ruộng để rồi nằm đó cho người ta đi ngang ...nhặt?!
- Và nhiều thứ nữa.................
Dân gian ta có câu: Trên đời có 4 cái ngu. Làm mai, lảnh nợ, gác cu, cầm chầu.
Như vậy "gác cu" là cái ngu đứng hàng thứ 3. Mời các bạn cùng laonong đi thực tế, gặp gỡ các "kì nhân" "dị sĩ" chuyên về gác cu để xem họ "ngu" cở nào.

Chuyến đi kì thú:
Để thực hiện phóng sự này, tôi quyết định đi thực tế ở xã Bình Chánh, thuộc huyện Bình Chánh, TPHCM. Xã này tuy gần quốc lộ nhưng vẫn còn nhũng cánh đồng lúa xanh mơn mỡn và những khu vườn cây ăn trái um tùm- Nơi lí tưởng cho chim cu sinh sống.

Xuyên qua những con đường rợp bóng cây, tôi lần theo tiếng chim cu gáy dồn dập, cuối cùng cũng đến được một khu vườn mà trong đó có 1 ngôi nhà khá rộng, nhưng đặc biệt là những tiếng cu gáy dồn dập cú vang lên không ngớt quanh nhà và trên cây.

Nhìn vào tôi thấy có 2 ông lão tuổi độ chừng 50 đang mân mê cái lồng chim. Không bỏ lỡ cơ hội, tôi bước vào làm quen. May mắn cho tôi là 2 lão trông rất hiền từ và hiếu khách khi biết tôi từ TP xuống "nghiên cứu" về gác cu. Một lão nói:" Chú mày đến đây là may mắn quá rồi, thôi vào uống nước nói chuyện."
Tôi mừng như bắt được vàng, đoán rằng chắc chuyến đi này nhất định sẽ thành công. Lúc uống nước tôi quan sát thấy quanh nhà hàng chục chiếc lồng cu treo khắp nơi. Không khí rộn rã với những tiếng cu gáy đây đó.

Ban đầu tôi cứ tưởng 2 lão bẫy cu về bán hay ăn thịt là chính, nhưng qua buổi nói chuyện tôi mới biết rằng dân "ghiền" gài cu chẳng phải mục đích để kiếm sống mà để giải trí. Chiến lợi phẩm họ sẵn sàng biếu không cho những ai mà họ thấy thích. Có lần lão Tr. ( người nhỏ con có râu trong ảnh) có con cu đã nuôi nhiều năm và đã thuần thục, có người trả đến hàng chục triệu cũng không bán nhưng lại sẵn sàng biếu không cho người trong xóm chỉ mỗi lí do đơn giản là thấy người kia thích nuôi cu thật sự.

Càng nghe 2 lão nói tôi càng say mê, qua đó tôi mới biết những thuật ngữ của giới chơi cu mà người ngoài nghe như vịt nghe sấm.
Cu bổi: Là những con cu mới bắt được, rất nhát, thấy người đi qua là cứ chúi vào lồng mà tìm cách thoát thân, bất chấp thương tích do đụng chạm vào lồng.
Cu mồi: Là những con cu đã được huấn luyện thuằn thục, rất dạn người. Chỉ cần nghe tiếng búng tay hay huýt gió của chủ là gáy lên dồn dập.
Nghe trò chuyện tôi càng thán phục 1 lão vì trình độ 2 lão đã đến mức cao siêu. Chỉ cần nghe tiếng gáy là biết con nào hay con nào dở, con nào nhát con nào dạn...

Hai lão chơi cu.
Hai lão chơi cu.

Lồng cu treo khắp nơi quanh nhà.
Lồng cu treo khắp nơi quanh nhà.

Một chú cu mồi.
Một chú cu mồi.

gác cu
Treo trên cây.

cu treo ngoài vườn
Treo cả ngoài vườn.

Gác cu
Cu bổi.

Cu bổi mới bắt được thường được nhốt chung với nhau thế này. Có thể ai xin thì cho, cũng có khi rô ti nhậu, nhưng rất ít khi các bác ấy ăn thịt cu.

Được nghe kể chuyện cu tôi thích thú đến quên cả đói, đến chừng 2 lão mời dùng bữa tôi mới chợt thấy đói, nhưng điều làm tôi khoái chí nhất là 2 lão thấy tôi cũng mê....cu nên gợi ý hôm nào đến đi gài cu thực tế với 2 lão một chuyến.

Về phương pháp bẩy cu thế nào, mời các bạn xem tiếp phóng sự kì sau.
Nguồn: truyenky.vn

Gác cu

Lời giới thiệu:
Chào các bạn, đất nước ta 90% là nông nghiệp. Thôn quê Việt nam ẩn chứa nhiều thú vị mà nhiều người vẫn chưa biết. Laonong may mắn sinh ra và lớn lên ở nông thôn Nam bộ nên cũng biết nhiều điều về vùng đất trù phú này.

- Dân gian có câu: " Cu kêu 3 tiếng cu kêu, mau mau tới Tết dựng nêu ăn chè". Hình ảnh chú chim cu gắn liền với sự êm đềm của thôn quê Nam bộ, vậy bạn đã biết gì về chú chim hiền lành này? Bạn có biết tại sao người ta nói những người đi gác (bẩy) cu là ngu?
- Các bạn ăn chuối hàng ngày vậy có biết cây chuối ra sao, trồng thế nào? và nhất là bí quyết chọn mua chuối ngon, không bơm thuốc thế nào?
- Bạn ăn cá hàng ngày vậy bạn có biết cách bắt cá ở nông thôn ra sao? Bạn từng nghe nói cá dưới nước bổng dưng nhảy lên bờ ruộng để rồi nằm đó cho người ta đi ngang ...nhặt?!
- Và nhiều thứ nữa.................
Dân gian ta có câu: Trên đời có 4 cái ngu. Làm mai, lảnh nợ, gác cu, cầm chầu.
Như vậy "gác cu" là cái ngu đứng hàng thứ 3. Mời các bạn cùng laonong đi thực tế, gặp gỡ các "kì nhân" "dị sĩ" chuyên về gác cu để xem họ "ngu" cở nào.

Chuyến đi kì thú:
Để thực hiện phóng sự này, tôi quyết định đi thực tế ở xã Bình Chánh, thuộc huyện Bình Chánh, TPHCM. Xã này tuy gần quốc lộ nhưng vẫn còn nhũng cánh đồng lúa xanh mơn mỡn và những khu vườn cây ăn trái um tùm- Nơi lí tưởng cho chim cu sinh sống.

Xuyên qua những con đường rợp bóng cây, tôi lần theo tiếng chim cu gáy dồn dập, cuối cùng cũng đến được một khu vườn mà trong đó có 1 ngôi nhà khá rộng, nhưng đặc biệt là những tiếng cu gáy dồn dập cú vang lên không ngớt quanh nhà và trên cây.

Nhìn vào tôi thấy có 2 ông lão tuổi độ chừng 50 đang mân mê cái lồng chim. Không bỏ lỡ cơ hội, tôi bước vào làm quen. May mắn cho tôi là 2 lão trông rất hiền từ và hiếu khách khi biết tôi từ TP xuống "nghiên cứu" về gác cu. Một lão nói:" Chú mày đến đây là may mắn quá rồi, thôi vào uống nước nói chuyện."
Tôi mừng như bắt được vàng, đoán rằng chắc chuyến đi này nhất định sẽ thành công. Lúc uống nước tôi quan sát thấy quanh nhà hàng chục chiếc lồng cu treo khắp nơi. Không khí rộn rã với những tiếng cu gáy đây đó.

Ban đầu tôi cứ tưởng 2 lão bẫy cu về bán hay ăn thịt là chính, nhưng qua buổi nói chuyện tôi mới biết rằng dân "ghiền" gài cu chẳng phải mục đích để kiếm sống mà để giải trí. Chiến lợi phẩm họ sẵn sàng biếu không cho những ai mà họ thấy thích. Có lần lão Tr. ( người nhỏ con có râu trong ảnh) có con cu đã nuôi nhiều năm và đã thuần thục, có người trả đến hàng chục triệu cũng không bán nhưng lại sẵn sàng biếu không cho người trong xóm chỉ mỗi lí do đơn giản là thấy người kia thích nuôi cu thật sự.

Càng nghe 2 lão nói tôi càng say mê, qua đó tôi mới biết những thuật ngữ của giới chơi cu mà người ngoài nghe như vịt nghe sấm.
Cu bổi: Là những con cu mới bắt được, rất nhát, thấy người đi qua là cứ chúi vào lồng mà tìm cách thoát thân, bất chấp thương tích do đụng chạm vào lồng.
Cu mồi: Là những con cu đã được huấn luyện thuằn thục, rất dạn người. Chỉ cần nghe tiếng búng tay hay huýt gió của chủ là gáy lên dồn dập.
Nghe trò chuyện tôi càng thán phục 1 lão vì trình độ 2 lão đã đến mức cao siêu. Chỉ cần nghe tiếng gáy là biết con nào hay con nào dở, con nào nhát con nào dạn...

Hai lão chơi cu.
Hai lão chơi cu.

Lồng cu treo khắp nơi quanh nhà.
Lồng cu treo khắp nơi quanh nhà.

Một chú cu mồi.
Một chú cu mồi.

gác cu
Treo trên cây.

cu treo ngoài vườn
Treo cả ngoài vườn.

Gác cu
Cu bổi.

Cu bổi mới bắt được thường được nhốt chung với nhau thế này. Có thể ai xin thì cho, cũng có khi rô ti nhậu, nhưng rất ít khi các bác ấy ăn thịt cu.

Được nghe kể chuyện cu tôi thích thú đến quên cả đói, đến chừng 2 lão mời dùng bữa tôi mới chợt thấy đói, nhưng điều làm tôi khoái chí nhất là 2 lão thấy tôi cũng mê....cu nên gợi ý hôm nào đến đi gài cu thực tế với 2 lão một chuyến.

Về phương pháp bẩy cu thế nào, mời các bạn xem tiếp phóng sự kì sau.
Nguồn: truyenky.vn

May 3, 2012

“Có tiếng rao nghe sao lạc lõng giữa phố chiều lao xao
Có tiếng rao nghe xơ xác xanh xao khuất sau hàng phố cao...”.

Gánh hàng rong

Những khoảng lặng quý giá trong đời sống đô thị, ngành nghề với bao nỗi cơ cực dãi nắng dầm mưa, vì thế có người nói chúng ta nên cứ thương-giận hàng rong!
  Hàng rong có từ bao giờ, không biết nữa. Chỉ thấy rằng, khi nói đến cuộc sống của thành phố ngàn năm tuổi này, người ta không thể không nhắc đến hàng rong, như một nét riêng của văn hóa đô thị.

Nói đến hàng rong là nói đến những người đi bán dạo. Đó là những người nghèo tảo tần, cam phận. Họ không ngồi một chỗ cố định, mà rong ruổi khắp hang cùng, ngõ hẻm. Với chiếc đòn gánh cong cong, những người đàn bà của Tú Xương bất kể ngày nắng hay mưa, quẩy trên vai các thứ thiết yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường ngày cho người hàng phố. Từ củ hành, mớ rau thơm làng Láng, bó hoa cúc, bông thược dược làng Ngọc Hà cho đến bánh cuốn Thanh Trì, bìa đậu Hoàng Mai, mẹt cốm làng Vòng… mùa nào thức nấy! Thời khốn khó, không có siêu thị, cửa hàng thực phẩm bán bằng tem phiếu. Chỉ có chợ và hàng rong. Nhà có công việc hay đông người thì mới đi chợ. Còn không, mọi sinh hoạt hàng ngày như mớ rau, bìa đậu, con tép… tất tật đều trông vào hàng rong. Vừa tiện, vừa rẻ và tươi.

Gánh hàng rong

Khi Hà Nội chưa gấp gáp đô thị hóa và mở rộng, mới chỉ có khu 36 phố phường, mà ta gọi là khu phố cổ và khu phố Tây, thì bán hàng rong là dân các làng ven đô. Vào những năm 60 trở về trước, đi từ Bờ Hồ hay các phố ở trung tâm lên đến làng Ngọc Hà, làng Láng, Hoàng Mai, Trương Định, làng Vòng, Bưởi… đã thấy xa, phải mất mấy chặng dừng tránh tàu điện. Rồi dân nghèo các vùng xung quanh như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên… lũ lượt kéo nhau về Hà thành kiếm sống, gọi là dân “tứ chiếng”. Họ làm đủ thứ nghề, đàn ông đạp xích lô, ba gác, thợ hồ, bốc vác ở Bến Nứa, chợ Đồng Xuân, Bắc Qua. Đàn bà, con gái thì đi “đi ở” cho nhà người ta, một số tháo vát, có chút vốn còm thì nhập vào đội quân bán dạo.

Thời trước, Hà Nội còn vắng lắm, không đông đúc ồn ã như bây giờ. Giao thông chủ yếu bằng xe điện và xe đạp. Ô tô riêng hầu như không có. Chỉ có xe ô tô mang biển xanh của Nhà nước và biển đỏ của quân đội, được phe XHCN viện trợ như của Liên Xô, Rumani, Trung Quốc, Triều Tiên. Xe máy cũng hiếm. Vì thế giao thông trong thành phố rất trật tự, yên ả, chứ không bát nháo, chen lấn phóng nhanh vượt ẩu và ùn tắc như bây giờ. Trên vỉa hè chỉ có người đi bộ và người bán hàng rong. Không có chuyện cơi nới lấn chiếm vỉa hè làm nơi kinh doanh, trông giữ xe máy, ô tô. Người ngồi trong nhà dễ dàng gọi hàng rong để mua thứ mình cần.
Gánh hàng rong

Thật thú vị biết bao, giữa trưa hè oi bức, được ăn bát “tào phớ” màu trắng ngà, mát lạnh, sóng sánh nước đường mà người bán khéo léo múc trong chiếc thùng gỗ nhỏ bằng cái vỏ con trai to bằng bàn tay trẻ con, mỗi bát chỉ vài lượt óc đậu mỏng tang. Hay giữa tiết thu hanh hao nắng và se se lạnh, được ngồi nhón từng nhúm cốm vòng xanh mướt thơm mùi hương lúa mới trong mảnh lá sen già mua của cô hàng cốm, bỏ vào miệng như thấy cả hương trời đất lan tỏa qua những hạt cốm dẹt, deo dẻo, mỏng manh. Rồi những tối mùa đông giá rét, ngồi quanh gánh hàng ngô nướng, khoai nướng trên vỉa hè mà hít hà, mà xuýt xoa trên tay bắp ngô non vừa nướng trên lò than hoa đỏ rực mà thấy ấm lòng, quên đi cái rét căm căm thổi đến từ phương Bắc.

Tuổi thơ tôi gắn liền với chiếc xe đẩy bán kem cốc, gọi là “xế cố” của ông người Tàu trước cửa trường ở phố Nguyễn Thái Học. Chỉ mất 5 xu, là đã được thưởng thức một cốc kem có chân hẳn hoi, đầy có ngọn. Trông thế, nhưng kem rất xốp, cái lưỡi tham lam của tôi chỉ lướt nhẹ hai, ba lần là đã thấy đáy cốc. Không biết ông múc thế nào mà khéo đến vậy. Thế nhưng, với lũ học trò như tôi, thì cốc “xế cố” xôm xốp, nhàn nhạt ăn vào lạnh đến cả chân răng kia, lại là món ngon nhất trần đời lúc ấy. Và, dẫu năm tháng trôi đi, mỗi khi nhớ lại, cái vị kem xôm xốp, thoang thoảng hương nước dừa, nước cam từ cái thùng kem của ông người Tàu, đến giờ vẫn cứ ngọt ngào và lạnh buốt trong kỷ niệm tuổi thơ tôi.

Gánh hàng rong

  Bây giờ, Hà Nội đã không còn như xưa. Cùng với tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ, thành phố ngày càng đông và chật chội. Cái diện tích rộng hơn 3.000 km2, dường như vẫn chưa đủ chỗ cho hơn 6 triệu người trong đại đô thị này. Nhà cao tầng mọc lên san sát. Nhiều tuyến đường được mở rộng, cải tạo và xây dựng mới. Các khu đô thị với hàng trăm tòa chung cư cao tầng đua nhau mọc lên trên các vùng đất hôm qua là những cánh đồng trắng cánh cò bay. Cả thành phố từ trung tâm cho đến ngoại đô cứ rầm rập như một công trường khổng lồ. Không khí ngày cũng như đêm lúc nào cũng nặng vì bụi và tiếng ồn, khí thải. Các con đường trong thành phố lúc nào cũng dầy đặc người, luôn tắc đường, kẹt xe. Trong trung tâm, các cửa hàng cửa hiệu mọc lên san sát. Không nhà nào ở mặt phố lại không mở cửa hàng. Đã có bán là có mua. Thế là cái vỉa hè vốn dành cho người đi bộ thành nơi kinh doanh buôn bán tự lúc nào. Vỉa hè thành nơi để xe máy của khách vào mua hàng. Là nơi nhà này lấn ra để bán cà phê. Nhà kia ở bên trong không chịu lép, cũng tranh thủ nhao ra mở quán nước, gánh hàng bún chả… Cái vỉa hè vốn đã hẹp lại càng hẹp hơn. Người đi bộ và cả người bán hàng rong phải đi xuống lòng đường mà nơm nớp sợ hãi.

Càng đô thị hóa, người từ nông thôn bị mất đất đổ về thành phố ngày một đông hơn. Và tất nhiên, đội ngũ hàng rong cũng càng phát triển. Người bán hàng rong giờ cũng dăm đủ loại, không còn thuần chất như xưa. Tuy vẫn còn rất nhiều người bán hàng chân quê, mộc mạc, cần mẫn kiếm từng ngàn bạc. Cũng vẫn là củ sắn, củ khoai, bắp ngô quen thuộc, nhưng cách chế biến đã đượm chất kinh doanh đô thị. Củ sắn luộc được ủ nóng lại còn rắc bên trên ít dừa nạo nhỏ như sợi bún, ăn vừa bùi vừa ngầy ngậy, nhưng tiền mua một khúc sắn như thế đắt gấp đôi khúc sắn luộc bình thường.

Kinh tế thị trường đã dậy cho người bán hàng rong khôn lên đến mức láu cá, thậm chí biết lừa đảo bằng cách cân điêu. Bán hoa quả đã biết lòe khách hàng rằng táo nhập từ Mỹ, nho là của Úc… nhưng thực ra mấy thứ hoa quả đó đều lấy từ chợ hoa quả Long Biên, nhập về từ bên kia biên giới phía Bắc. Buôn một, bán hai ba. Bỏ vốn một đồng, thu lãi hai, ba đồng. Hàng rong mà siêu lợi nhuận, lại chẳng phải thuế má gì. Quanh Bờ hồ Hoàn Kiếm, một dạo xuất hiện băng hàng rong chuyên trấn lột khách nước ngoài. Bằng cách giả lả tươi cười rồi “hê lô, hê lô” tỏ ra thân thiện với mấy ông Tây, bà đầm, lừa cho họ đặt cái đòn gánh tong teo mấy quả chuối, quả bưởi đã gọt vỏ lên vai tạo dáng chụp ảnh là vòi tiền. Mà tiền đô hẳn hoi. Mỗi lần như thế khách phải chi ít nhất là một chục. Nếu vị khách nào tỏ vẻ cứng, không chịu đưa tiền là lũ lưu manh này xúm vào xỉa xói với người vừa mới được “hê lô, hê lô” cách đấy mươi phút.

gánh hàng rong ngày xưa
Một ngày nào đó thành phố này phải thuê những người bán hàng rong để họ "tái tạo lại lịch sử"

  Tôi là người có thú lang thang trên những con phố của thành phố thân yêu này. Chứng kiến nhiều câu chuyện bi hài của gánh hàng rong. Buồn có vui có. Nhưng nghĩ cho cùng câu chuyện về hàng rong cũng là câu chuyện rất đời thường của cuộc sống đô thị mà thôi. Hãy quên đi những kẻ bán hàng bất lương. Hãy quy định rõ ràng đoạn phố, con đường nào hàng rong không được đến vì một lý do nào đấy. Còn lại, hãy để người bán hàng rong được tự do làm cái việc kiếm sống chính đáng của mình, đem lại sự thuận tiện và niềm vui nho nhỏ cho cư dân đô thị. Sẽ ra sao, mai này trên đường phố vắng một tiếng rao đêm, vắng bóng người con gái quê mảnh mai với chiếc đòn gánh cong hai đầu như vành trăng khuyết, đem bốn mùa đến cho mọi người?

Đường phố sẽ buồn tẻ biết bao nhiêu! Và khi ấy, ta sẽ thấy câu nói của Chua Beng Huat, một GS nổi tiếng về đô thị học của Singapore khi quan sát hoạt động hàng rong trong khu phố cổ Hà Nội, sâu sắc và thâm thúy biết chừng nào: “Một ngày nào đó, thành phố này phải thuê những người bán hàng rong để họ tái tạo lại lịch sử”.

Còn tôi, tôi thấy thật đúng khi cho rằng, hàng rong là nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội. Bạn có đồng ý không?

Theo Thanh Tùng
 Năng lượng mới

Những gánh hàng rong

“Có tiếng rao nghe sao lạc lõng giữa phố chiều lao xao
Có tiếng rao nghe xơ xác xanh xao khuất sau hàng phố cao...”.

Gánh hàng rong

Những khoảng lặng quý giá trong đời sống đô thị, ngành nghề với bao nỗi cơ cực dãi nắng dầm mưa, vì thế có người nói chúng ta nên cứ thương-giận hàng rong!
  Hàng rong có từ bao giờ, không biết nữa. Chỉ thấy rằng, khi nói đến cuộc sống của thành phố ngàn năm tuổi này, người ta không thể không nhắc đến hàng rong, như một nét riêng của văn hóa đô thị.

Nói đến hàng rong là nói đến những người đi bán dạo. Đó là những người nghèo tảo tần, cam phận. Họ không ngồi một chỗ cố định, mà rong ruổi khắp hang cùng, ngõ hẻm. Với chiếc đòn gánh cong cong, những người đàn bà của Tú Xương bất kể ngày nắng hay mưa, quẩy trên vai các thứ thiết yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường ngày cho người hàng phố. Từ củ hành, mớ rau thơm làng Láng, bó hoa cúc, bông thược dược làng Ngọc Hà cho đến bánh cuốn Thanh Trì, bìa đậu Hoàng Mai, mẹt cốm làng Vòng… mùa nào thức nấy! Thời khốn khó, không có siêu thị, cửa hàng thực phẩm bán bằng tem phiếu. Chỉ có chợ và hàng rong. Nhà có công việc hay đông người thì mới đi chợ. Còn không, mọi sinh hoạt hàng ngày như mớ rau, bìa đậu, con tép… tất tật đều trông vào hàng rong. Vừa tiện, vừa rẻ và tươi.

Gánh hàng rong

Khi Hà Nội chưa gấp gáp đô thị hóa và mở rộng, mới chỉ có khu 36 phố phường, mà ta gọi là khu phố cổ và khu phố Tây, thì bán hàng rong là dân các làng ven đô. Vào những năm 60 trở về trước, đi từ Bờ Hồ hay các phố ở trung tâm lên đến làng Ngọc Hà, làng Láng, Hoàng Mai, Trương Định, làng Vòng, Bưởi… đã thấy xa, phải mất mấy chặng dừng tránh tàu điện. Rồi dân nghèo các vùng xung quanh như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên… lũ lượt kéo nhau về Hà thành kiếm sống, gọi là dân “tứ chiếng”. Họ làm đủ thứ nghề, đàn ông đạp xích lô, ba gác, thợ hồ, bốc vác ở Bến Nứa, chợ Đồng Xuân, Bắc Qua. Đàn bà, con gái thì đi “đi ở” cho nhà người ta, một số tháo vát, có chút vốn còm thì nhập vào đội quân bán dạo.

Thời trước, Hà Nội còn vắng lắm, không đông đúc ồn ã như bây giờ. Giao thông chủ yếu bằng xe điện và xe đạp. Ô tô riêng hầu như không có. Chỉ có xe ô tô mang biển xanh của Nhà nước và biển đỏ của quân đội, được phe XHCN viện trợ như của Liên Xô, Rumani, Trung Quốc, Triều Tiên. Xe máy cũng hiếm. Vì thế giao thông trong thành phố rất trật tự, yên ả, chứ không bát nháo, chen lấn phóng nhanh vượt ẩu và ùn tắc như bây giờ. Trên vỉa hè chỉ có người đi bộ và người bán hàng rong. Không có chuyện cơi nới lấn chiếm vỉa hè làm nơi kinh doanh, trông giữ xe máy, ô tô. Người ngồi trong nhà dễ dàng gọi hàng rong để mua thứ mình cần.
Gánh hàng rong

Thật thú vị biết bao, giữa trưa hè oi bức, được ăn bát “tào phớ” màu trắng ngà, mát lạnh, sóng sánh nước đường mà người bán khéo léo múc trong chiếc thùng gỗ nhỏ bằng cái vỏ con trai to bằng bàn tay trẻ con, mỗi bát chỉ vài lượt óc đậu mỏng tang. Hay giữa tiết thu hanh hao nắng và se se lạnh, được ngồi nhón từng nhúm cốm vòng xanh mướt thơm mùi hương lúa mới trong mảnh lá sen già mua của cô hàng cốm, bỏ vào miệng như thấy cả hương trời đất lan tỏa qua những hạt cốm dẹt, deo dẻo, mỏng manh. Rồi những tối mùa đông giá rét, ngồi quanh gánh hàng ngô nướng, khoai nướng trên vỉa hè mà hít hà, mà xuýt xoa trên tay bắp ngô non vừa nướng trên lò than hoa đỏ rực mà thấy ấm lòng, quên đi cái rét căm căm thổi đến từ phương Bắc.

Tuổi thơ tôi gắn liền với chiếc xe đẩy bán kem cốc, gọi là “xế cố” của ông người Tàu trước cửa trường ở phố Nguyễn Thái Học. Chỉ mất 5 xu, là đã được thưởng thức một cốc kem có chân hẳn hoi, đầy có ngọn. Trông thế, nhưng kem rất xốp, cái lưỡi tham lam của tôi chỉ lướt nhẹ hai, ba lần là đã thấy đáy cốc. Không biết ông múc thế nào mà khéo đến vậy. Thế nhưng, với lũ học trò như tôi, thì cốc “xế cố” xôm xốp, nhàn nhạt ăn vào lạnh đến cả chân răng kia, lại là món ngon nhất trần đời lúc ấy. Và, dẫu năm tháng trôi đi, mỗi khi nhớ lại, cái vị kem xôm xốp, thoang thoảng hương nước dừa, nước cam từ cái thùng kem của ông người Tàu, đến giờ vẫn cứ ngọt ngào và lạnh buốt trong kỷ niệm tuổi thơ tôi.

Gánh hàng rong

  Bây giờ, Hà Nội đã không còn như xưa. Cùng với tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ, thành phố ngày càng đông và chật chội. Cái diện tích rộng hơn 3.000 km2, dường như vẫn chưa đủ chỗ cho hơn 6 triệu người trong đại đô thị này. Nhà cao tầng mọc lên san sát. Nhiều tuyến đường được mở rộng, cải tạo và xây dựng mới. Các khu đô thị với hàng trăm tòa chung cư cao tầng đua nhau mọc lên trên các vùng đất hôm qua là những cánh đồng trắng cánh cò bay. Cả thành phố từ trung tâm cho đến ngoại đô cứ rầm rập như một công trường khổng lồ. Không khí ngày cũng như đêm lúc nào cũng nặng vì bụi và tiếng ồn, khí thải. Các con đường trong thành phố lúc nào cũng dầy đặc người, luôn tắc đường, kẹt xe. Trong trung tâm, các cửa hàng cửa hiệu mọc lên san sát. Không nhà nào ở mặt phố lại không mở cửa hàng. Đã có bán là có mua. Thế là cái vỉa hè vốn dành cho người đi bộ thành nơi kinh doanh buôn bán tự lúc nào. Vỉa hè thành nơi để xe máy của khách vào mua hàng. Là nơi nhà này lấn ra để bán cà phê. Nhà kia ở bên trong không chịu lép, cũng tranh thủ nhao ra mở quán nước, gánh hàng bún chả… Cái vỉa hè vốn đã hẹp lại càng hẹp hơn. Người đi bộ và cả người bán hàng rong phải đi xuống lòng đường mà nơm nớp sợ hãi.

Càng đô thị hóa, người từ nông thôn bị mất đất đổ về thành phố ngày một đông hơn. Và tất nhiên, đội ngũ hàng rong cũng càng phát triển. Người bán hàng rong giờ cũng dăm đủ loại, không còn thuần chất như xưa. Tuy vẫn còn rất nhiều người bán hàng chân quê, mộc mạc, cần mẫn kiếm từng ngàn bạc. Cũng vẫn là củ sắn, củ khoai, bắp ngô quen thuộc, nhưng cách chế biến đã đượm chất kinh doanh đô thị. Củ sắn luộc được ủ nóng lại còn rắc bên trên ít dừa nạo nhỏ như sợi bún, ăn vừa bùi vừa ngầy ngậy, nhưng tiền mua một khúc sắn như thế đắt gấp đôi khúc sắn luộc bình thường.

Kinh tế thị trường đã dậy cho người bán hàng rong khôn lên đến mức láu cá, thậm chí biết lừa đảo bằng cách cân điêu. Bán hoa quả đã biết lòe khách hàng rằng táo nhập từ Mỹ, nho là của Úc… nhưng thực ra mấy thứ hoa quả đó đều lấy từ chợ hoa quả Long Biên, nhập về từ bên kia biên giới phía Bắc. Buôn một, bán hai ba. Bỏ vốn một đồng, thu lãi hai, ba đồng. Hàng rong mà siêu lợi nhuận, lại chẳng phải thuế má gì. Quanh Bờ hồ Hoàn Kiếm, một dạo xuất hiện băng hàng rong chuyên trấn lột khách nước ngoài. Bằng cách giả lả tươi cười rồi “hê lô, hê lô” tỏ ra thân thiện với mấy ông Tây, bà đầm, lừa cho họ đặt cái đòn gánh tong teo mấy quả chuối, quả bưởi đã gọt vỏ lên vai tạo dáng chụp ảnh là vòi tiền. Mà tiền đô hẳn hoi. Mỗi lần như thế khách phải chi ít nhất là một chục. Nếu vị khách nào tỏ vẻ cứng, không chịu đưa tiền là lũ lưu manh này xúm vào xỉa xói với người vừa mới được “hê lô, hê lô” cách đấy mươi phút.

gánh hàng rong ngày xưa
Một ngày nào đó thành phố này phải thuê những người bán hàng rong để họ "tái tạo lại lịch sử"

  Tôi là người có thú lang thang trên những con phố của thành phố thân yêu này. Chứng kiến nhiều câu chuyện bi hài của gánh hàng rong. Buồn có vui có. Nhưng nghĩ cho cùng câu chuyện về hàng rong cũng là câu chuyện rất đời thường của cuộc sống đô thị mà thôi. Hãy quên đi những kẻ bán hàng bất lương. Hãy quy định rõ ràng đoạn phố, con đường nào hàng rong không được đến vì một lý do nào đấy. Còn lại, hãy để người bán hàng rong được tự do làm cái việc kiếm sống chính đáng của mình, đem lại sự thuận tiện và niềm vui nho nhỏ cho cư dân đô thị. Sẽ ra sao, mai này trên đường phố vắng một tiếng rao đêm, vắng bóng người con gái quê mảnh mai với chiếc đòn gánh cong hai đầu như vành trăng khuyết, đem bốn mùa đến cho mọi người?

Đường phố sẽ buồn tẻ biết bao nhiêu! Và khi ấy, ta sẽ thấy câu nói của Chua Beng Huat, một GS nổi tiếng về đô thị học của Singapore khi quan sát hoạt động hàng rong trong khu phố cổ Hà Nội, sâu sắc và thâm thúy biết chừng nào: “Một ngày nào đó, thành phố này phải thuê những người bán hàng rong để họ tái tạo lại lịch sử”.

Còn tôi, tôi thấy thật đúng khi cho rằng, hàng rong là nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội. Bạn có đồng ý không?

Theo Thanh Tùng
 Năng lượng mới

Apr 7, 2012



 Miền Tây mến yêu. Đến miền Tây, như là bạn đang tìm về chính mình. Khung cảnh như là một kỳ quan của thế giới thu nhỏ, như là một vẻ đẹp tự nhiên của thôn nữ không cần chút phấn hồng điểm trang, bạn có thể gặp chính bạn trong sự chân tình của người địa phương. Niềm vui phấn khởi khi cư dân ở đây gặp bạn như thể là người thân lâu lắm không gặp, một tình người rất chân thật, một nét văn hóa riêng mà ai đến đây khi ra về không biết diễn tả như thế nào vì rất là Miền Tây!



Nói đến tính cách của con người miền tây, nó được thể hiện qua các mối quan hệ trong xã hội. Thực ra, người Miền Tây là một trong những bộ phận cấu thành của dân tộc Việt Nam, do điều kiện nơi sống và nét văn hóa khác nhau của từng vùng, từng miền mà tính cách của con người cũng khác nhau.

Như mọi người đều biết, vùng đất này trước khi có sự khai phá của những người dân đến từ miền Trung và một ít cư dân người Bắc thì vùng đất này chỉ là một vùng rừng rậm hoang vu, có thú dữ tràn đầy. Chính vì điều đó họ luôn lo sợ trước cảnh tượng rừng hoang cỏ rậm, đồng ruộng hoang vu này. Từ đó họ đã nương tựa vào nhau để sống, tất cả mọi người đều hết lòng vì việc nghĩa. Điều này đã hình thành nên tính cách “trọng nghĩa khinh tài” ở trong con người họ. Bởi họ ý thức được rằng: trước điều kiện thiên nhiên như vậy, nếu họ chia rẽ thì sẽ chết. Tinh thân đoàn kết, sống với nhau vì nghĩa không chỉ giúp họ sẻ chia công việc với nhau, để giúp đỡ nhau trong những lúc hoạn nạn, ốm đau mà còn hỗ trợ lẫn nhau cùng chống lại những khắc nghiệt của thiên nhiên.

Chính điều kiện hoàn cảnh khó khăn đó đã tôi luyện con người Miền Nam này thành một người “Hành hiệp trượng nghĩa”. Họ sẵn sàng, thậm chí hy sinh tính mạng của mình để làm tròn đạo nghĩa. Bên cạnh đó cũng đã xây dựng cho con người tính chăm chỉ, làm việc hết mình, chơi thì cũng chơi “ tới bến”. Con người Miền Tây này luôn quan niệm rằng:
“ Nếu thấy việc nghĩa mà không ra tay làm thì không phải là anh hùng”

Còn trong những hoàn cảnh đời thường họ rất quý mến bạn bè. Nguyên do chủ yếu vì họ là những người ở xa gốc gác, xa nguồn cội của họ, họ từ những nơi khác đến, không có nhiều người thân thích, vì thế mà họ hiểu và luôn thông cảm cho nhau vì “ mọi người đều cùng chung một số phận”, hoạn nạn họ luôn kề vai để vượt qua – “ Bán bà con xa mua láng giềng gần” đây là câu nói cửa miệng của những con người ở đây để nói lên rằng họ luôn sống cho nhau, cho bạn bè, cho những người đang sống quanh họ. Nên khi có bạn bè đến chơi hay khách đến nhà, dù gia cảnh có bần hàn, khó khăn đến đâu họ cũng cố gắng đãi bạn, đãi khách cho tươm tất:
“ Bắt con cá lóc nướng trui
Làm mâm rượu trắng đãi người bạn xa”

Dù nghèo đến đâu, khi có khách hay bạn bè đến chơi thì họ luôn tâm niệm rằng” nghèo thì nghèo, tiếp bạn chu đáo cái đã, tiền bạc có sá gì, nhân nghĩa mới là điều quan trọng”. Vì vậy, những ai không  có nhân nghĩa thì cũng đừng hòng họ đáp lại bằng nhân nghĩa.Ngược lại, nếu sống có tình nghĩa thì khó khăn nào họ cũng chịu, gian khổ mấy họ vẫn sẵn sàng chấp nhận. Và một đặc điểm nữa đi liền với tính cách của người Miền Tây là: Họ nói một là một, hai là hai, không thay đổi, tình cảm luôn rõ ràng, dứt khoát, nếu đã hứa thì phải làm dù cho sự thay đổi có thể mang lại cho họ nhiều điều lợi nhưng họ vẫn”khăng khắng một lời quân tử nhất ngôn”

Lợi lộc thì họ ham nhưng không vì danh lợi đó mà làm những công việc phi nghĩa, làm trái với tinh thần nghĩa khí hào hiệp của họ. Họ chỉ nhận những gì tương xứng với công sức mà họ bỏ ra.

Nói về chuyện tình yêu nam nữ, họ sống và thể hiện tình cảm cho nhau rất chân thành qua những lời lẽ mộc mạc. Thời xưa họ thường dùng những câu đối, những câu hò trên những cánh đồng xanh tốt để thể hiện tình cảm cho nhau. Một tính cách nổi bật nữa của những con người ở đây mà người ta thường nhắc đến là tính hiên ngang, dân gian thường gọi là tính “ ngang tàng”. “ Ngang tàng” ở đây không phải là ngang ngược, lỗ mãng mà “ ngang tàng” ở đây chính là tính nghĩa khí, chí khí hiên ngang. Họ đối đãi với nhau rất là điệu nghệ, sẵn sàng “ hy sinh bản thân” để sống cho việc nghĩa.
“ Trời sinh cây cứng lá dai,
Gió lay mặc gió, chiều ai không chiều”.

Chính tính cách này giúp họ sống hòa thuận với nhau, cùng chung sức khai hoang lập ấp. Với sự nỗ lực đó, mảnh đất hoang vu thuở nào nay đã trù phú, rừng hoang đã rẫy, với những cánh đồng bát ngát xanh tươi. Thiên nhiên ngày càng đem đến cho con người ở đây nhiều nguồn lợi hơn. Từ đó họ càng thêm tự hào và yêu quý mảnh đất này hơn. Và họ còn thể hiện tình cảm cũng như tấm lòng của họ với đất nước với một phong cách rất riêng mang đậm bản tính của người Nam Bộ. Đó là lý do giải thích tại sao các câu ca dao, những bài hát Nam Bộ có nội dung về quê hương đất nước thường đề cập đến một vùng đất trù phú, một địa bàn khá rộng và nổi tiếng giàu có về những thứ sản vật nào đó:
“ Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh,
Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm”.
Hay:                                    
  “ Bến Tre giàu mía Mỏ Cày,
Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.”

Hay trong bài hát có câu: “ Cần Thơ gạo trằng nước trong…”
Đó là tất cả những hoạt cảnh của thời bình, đến thời chiến tranh thì mọi thứ bị thực dân Pháp đảo lộn. Con người Miền Nam này vì được xuất thân và trải qua nhiều khó khăn vất vả đã hun đúc đào tạo được tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng của người dân Nam Bộ được phát huy mạnh mẽ. Họ kêu gọi mọi người đấu tranh, khích lệ nhau lên đường đánh giặc cứu nước:
“ Làm trai đứng ở trên đời,
Sao cho xứng đáng giống nòi nhà ta.
Ghé vai gánh đỡ sơn hà,
Sao cho tỏ mặt mới là trượng phu.”

Và hình ảnh người phụ nữ Nam Bộ ở nhà chăm lo sản xuất để chồng mình yên tâm đi chiến đấu. Một hình ảnh thể hiện mạnh mẽ người phụ nữ Nam Bộ kiên cường, họ thể hiện lòng yêu nước của mình bằng sự hy sinh chăm lo cho con cái, chăm lo nhà cửa và vui vẻ tiễn người chồng thân yêu nhất của họ lên đường cứu nước:
“ Anh đi đánh giặc Lang Sa,
Để thiếp ở nhà, lo tần lo tảo.
Chén cơm manh áo, nhà cửa ruộng vườn.
Để anh lên ngựa đề thương
Thiếp về mặc thiếp liệu lường nuôi con”

Trên đây chỉ thể hiện một phần tính cách của con người Miền Tây nói riêng và Miền Nam nói chung. Nói đến tính cách con người của một vùng, một miền, một quốc gia nào đó là một điều tế nhị. Hơn nữa, tính cách con người lại rất phong phú và đa dạng, có thể sẽ thay đổi qua thời gian. Vì thế ta không thể phản ánh hết được tính cách của những con người ở đây mà chỉ qua cách nhìn nhận và những nhận xét khách quan của mọi người xung quanh ta, cũng như qua ca dao, tục ngữ, những bài hát mà nói lên tính cách chung của con người Miền Tây này, để xem những người Nam Bộ nói về tính cách của người Nam Bộ ra sao. Từ đó chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về đặc tính của vùng đất này và con người Nam Bộ này và cũng là để thêm yêu mảnh đất, thêm yêu con người Miền Nam hiền lành, chất phác này, như yêu chính anh em một nhà của gia đình Việt Nam chúng ta.
(Phương Thụy)

Miền Tây



 Miền Tây mến yêu. Đến miền Tây, như là bạn đang tìm về chính mình. Khung cảnh như là một kỳ quan của thế giới thu nhỏ, như là một vẻ đẹp tự nhiên của thôn nữ không cần chút phấn hồng điểm trang, bạn có thể gặp chính bạn trong sự chân tình của người địa phương. Niềm vui phấn khởi khi cư dân ở đây gặp bạn như thể là người thân lâu lắm không gặp, một tình người rất chân thật, một nét văn hóa riêng mà ai đến đây khi ra về không biết diễn tả như thế nào vì rất là Miền Tây!



Nói đến tính cách của con người miền tây, nó được thể hiện qua các mối quan hệ trong xã hội. Thực ra, người Miền Tây là một trong những bộ phận cấu thành của dân tộc Việt Nam, do điều kiện nơi sống và nét văn hóa khác nhau của từng vùng, từng miền mà tính cách của con người cũng khác nhau.

Như mọi người đều biết, vùng đất này trước khi có sự khai phá của những người dân đến từ miền Trung và một ít cư dân người Bắc thì vùng đất này chỉ là một vùng rừng rậm hoang vu, có thú dữ tràn đầy. Chính vì điều đó họ luôn lo sợ trước cảnh tượng rừng hoang cỏ rậm, đồng ruộng hoang vu này. Từ đó họ đã nương tựa vào nhau để sống, tất cả mọi người đều hết lòng vì việc nghĩa. Điều này đã hình thành nên tính cách “trọng nghĩa khinh tài” ở trong con người họ. Bởi họ ý thức được rằng: trước điều kiện thiên nhiên như vậy, nếu họ chia rẽ thì sẽ chết. Tinh thân đoàn kết, sống với nhau vì nghĩa không chỉ giúp họ sẻ chia công việc với nhau, để giúp đỡ nhau trong những lúc hoạn nạn, ốm đau mà còn hỗ trợ lẫn nhau cùng chống lại những khắc nghiệt của thiên nhiên.

Chính điều kiện hoàn cảnh khó khăn đó đã tôi luyện con người Miền Nam này thành một người “Hành hiệp trượng nghĩa”. Họ sẵn sàng, thậm chí hy sinh tính mạng của mình để làm tròn đạo nghĩa. Bên cạnh đó cũng đã xây dựng cho con người tính chăm chỉ, làm việc hết mình, chơi thì cũng chơi “ tới bến”. Con người Miền Tây này luôn quan niệm rằng:
“ Nếu thấy việc nghĩa mà không ra tay làm thì không phải là anh hùng”

Còn trong những hoàn cảnh đời thường họ rất quý mến bạn bè. Nguyên do chủ yếu vì họ là những người ở xa gốc gác, xa nguồn cội của họ, họ từ những nơi khác đến, không có nhiều người thân thích, vì thế mà họ hiểu và luôn thông cảm cho nhau vì “ mọi người đều cùng chung một số phận”, hoạn nạn họ luôn kề vai để vượt qua – “ Bán bà con xa mua láng giềng gần” đây là câu nói cửa miệng của những con người ở đây để nói lên rằng họ luôn sống cho nhau, cho bạn bè, cho những người đang sống quanh họ. Nên khi có bạn bè đến chơi hay khách đến nhà, dù gia cảnh có bần hàn, khó khăn đến đâu họ cũng cố gắng đãi bạn, đãi khách cho tươm tất:
“ Bắt con cá lóc nướng trui
Làm mâm rượu trắng đãi người bạn xa”

Dù nghèo đến đâu, khi có khách hay bạn bè đến chơi thì họ luôn tâm niệm rằng” nghèo thì nghèo, tiếp bạn chu đáo cái đã, tiền bạc có sá gì, nhân nghĩa mới là điều quan trọng”. Vì vậy, những ai không  có nhân nghĩa thì cũng đừng hòng họ đáp lại bằng nhân nghĩa.Ngược lại, nếu sống có tình nghĩa thì khó khăn nào họ cũng chịu, gian khổ mấy họ vẫn sẵn sàng chấp nhận. Và một đặc điểm nữa đi liền với tính cách của người Miền Tây là: Họ nói một là một, hai là hai, không thay đổi, tình cảm luôn rõ ràng, dứt khoát, nếu đã hứa thì phải làm dù cho sự thay đổi có thể mang lại cho họ nhiều điều lợi nhưng họ vẫn”khăng khắng một lời quân tử nhất ngôn”

Lợi lộc thì họ ham nhưng không vì danh lợi đó mà làm những công việc phi nghĩa, làm trái với tinh thần nghĩa khí hào hiệp của họ. Họ chỉ nhận những gì tương xứng với công sức mà họ bỏ ra.

Nói về chuyện tình yêu nam nữ, họ sống và thể hiện tình cảm cho nhau rất chân thành qua những lời lẽ mộc mạc. Thời xưa họ thường dùng những câu đối, những câu hò trên những cánh đồng xanh tốt để thể hiện tình cảm cho nhau. Một tính cách nổi bật nữa của những con người ở đây mà người ta thường nhắc đến là tính hiên ngang, dân gian thường gọi là tính “ ngang tàng”. “ Ngang tàng” ở đây không phải là ngang ngược, lỗ mãng mà “ ngang tàng” ở đây chính là tính nghĩa khí, chí khí hiên ngang. Họ đối đãi với nhau rất là điệu nghệ, sẵn sàng “ hy sinh bản thân” để sống cho việc nghĩa.
“ Trời sinh cây cứng lá dai,
Gió lay mặc gió, chiều ai không chiều”.

Chính tính cách này giúp họ sống hòa thuận với nhau, cùng chung sức khai hoang lập ấp. Với sự nỗ lực đó, mảnh đất hoang vu thuở nào nay đã trù phú, rừng hoang đã rẫy, với những cánh đồng bát ngát xanh tươi. Thiên nhiên ngày càng đem đến cho con người ở đây nhiều nguồn lợi hơn. Từ đó họ càng thêm tự hào và yêu quý mảnh đất này hơn. Và họ còn thể hiện tình cảm cũng như tấm lòng của họ với đất nước với một phong cách rất riêng mang đậm bản tính của người Nam Bộ. Đó là lý do giải thích tại sao các câu ca dao, những bài hát Nam Bộ có nội dung về quê hương đất nước thường đề cập đến một vùng đất trù phú, một địa bàn khá rộng và nổi tiếng giàu có về những thứ sản vật nào đó:
“ Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh,
Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm”.
Hay:                                    
  “ Bến Tre giàu mía Mỏ Cày,
Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.”

Hay trong bài hát có câu: “ Cần Thơ gạo trằng nước trong…”
Đó là tất cả những hoạt cảnh của thời bình, đến thời chiến tranh thì mọi thứ bị thực dân Pháp đảo lộn. Con người Miền Nam này vì được xuất thân và trải qua nhiều khó khăn vất vả đã hun đúc đào tạo được tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng của người dân Nam Bộ được phát huy mạnh mẽ. Họ kêu gọi mọi người đấu tranh, khích lệ nhau lên đường đánh giặc cứu nước:
“ Làm trai đứng ở trên đời,
Sao cho xứng đáng giống nòi nhà ta.
Ghé vai gánh đỡ sơn hà,
Sao cho tỏ mặt mới là trượng phu.”

Và hình ảnh người phụ nữ Nam Bộ ở nhà chăm lo sản xuất để chồng mình yên tâm đi chiến đấu. Một hình ảnh thể hiện mạnh mẽ người phụ nữ Nam Bộ kiên cường, họ thể hiện lòng yêu nước của mình bằng sự hy sinh chăm lo cho con cái, chăm lo nhà cửa và vui vẻ tiễn người chồng thân yêu nhất của họ lên đường cứu nước:
“ Anh đi đánh giặc Lang Sa,
Để thiếp ở nhà, lo tần lo tảo.
Chén cơm manh áo, nhà cửa ruộng vườn.
Để anh lên ngựa đề thương
Thiếp về mặc thiếp liệu lường nuôi con”

Trên đây chỉ thể hiện một phần tính cách của con người Miền Tây nói riêng và Miền Nam nói chung. Nói đến tính cách con người của một vùng, một miền, một quốc gia nào đó là một điều tế nhị. Hơn nữa, tính cách con người lại rất phong phú và đa dạng, có thể sẽ thay đổi qua thời gian. Vì thế ta không thể phản ánh hết được tính cách của những con người ở đây mà chỉ qua cách nhìn nhận và những nhận xét khách quan của mọi người xung quanh ta, cũng như qua ca dao, tục ngữ, những bài hát mà nói lên tính cách chung của con người Miền Tây này, để xem những người Nam Bộ nói về tính cách của người Nam Bộ ra sao. Từ đó chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về đặc tính của vùng đất này và con người Nam Bộ này và cũng là để thêm yêu mảnh đất, thêm yêu con người Miền Nam hiền lành, chất phác này, như yêu chính anh em một nhà của gia đình Việt Nam chúng ta.
(Phương Thụy)

Apr 5, 2012






"  Ai đi nước ngược, nước xuôi
       Có về Đồng Tháp theo tôi thì về.  "


Tỉnh Đồng Tháp nằm trong vùng trũng của lưu vực sông Cửu Long với đất đai màu mỡ, xóm làng trù phú và thuộc vùng Đồng Tháp Mười mênh mông.
 
 Không chỉ là xứ sở trái cây mà mỗi loài đều được gắn với tên gọi của một vùng quê màu mỡ như: nhãn Châu Thành, mận Hòa An, xoài Cao Lãnh, quýt hồng Lai Vung cùng sản phẩm của các làng nghề truyền thống như: bánh phồng tôm Sa Đéc, gốm Châu Thành, nem Lai Vung, chiếu Định Yên… Đồng Tháp còn là nơi lưu giữ nhiều di tích văn hóa lịch sử, những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn…





Về thăm Đồng Tháp






"  Ai đi nước ngược, nước xuôi
       Có về Đồng Tháp theo tôi thì về.  "


Tỉnh Đồng Tháp nằm trong vùng trũng của lưu vực sông Cửu Long với đất đai màu mỡ, xóm làng trù phú và thuộc vùng Đồng Tháp Mười mênh mông.
 
 Không chỉ là xứ sở trái cây mà mỗi loài đều được gắn với tên gọi của một vùng quê màu mỡ như: nhãn Châu Thành, mận Hòa An, xoài Cao Lãnh, quýt hồng Lai Vung cùng sản phẩm của các làng nghề truyền thống như: bánh phồng tôm Sa Đéc, gốm Châu Thành, nem Lai Vung, chiếu Định Yên… Đồng Tháp còn là nơi lưu giữ nhiều di tích văn hóa lịch sử, những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn…





Apr 4, 2012

Lorem ipsum eu usu assum liberavisse, ut munere praesent complectitur mea. Sit an option maiorum principes. Ne per probo magna idque, est veniam exerci appareat no. Sit at amet propriae intellegebat, natum iusto forensibus duo ut. Pro hinc aperiri fabulas ut, probo tractatos euripidis an vis, ignota oblique ut nec. Ad ius munere soluta deterruisset, quot veri id vim, te vel bonorum ornatus persequeris.

Sea stet iudico cetero cu, ut mei ferri mnesarchum, at duo enim vivendum abhorreant. Usu eruditi veritus vivendo ut, ut cibo lucilius inciderint eam, ne hinc discere explicari sea. Nam iusto delicata ne, eam dolore singulis maiestatis ex. Cu eruditi dolorem accusam pri, ea vidisse aliquip forensibus eam, ut erant labore fastidii has. Cum quod saepe periculis ea, eos iuvaret maiorum moderatius eu, pro ferri scaevola mnesarchum ut.


Nisl malis veritus pro no, pro an enim admodum mediocritatem. Ei his graeci option officiis, no oratio vocent efficiendi vix. Eu prima eleifend volutpat ius, mel atomorum omittantur te, quo debet possim habemus no. Et eum aliquip iuvaret dignissim, dicant epicurei vituperata vim eu. Usu dicunt verear deleniti te.

Amet blandit scripserit sit id, ea vim mollis oportere postulant. Nostro suavitate intellegam id mei, mea ex agam quodsi complectitur. Cu eos nibh justo philosophia, no pro velit suscipit philosophia. At est dicit instructior, viderer minimum conceptam no nec, te nec dicta iusto legendos. Duo ex velit vocibus, lucilius quaestio his eu. Cum falli aeterno delicatissimi et, elit justo epicuri has ut.

Rượu Sim: " Danh Tửu Miền Tây "

Lorem ipsum eu usu assum liberavisse, ut munere praesent complectitur mea. Sit an option maiorum principes. Ne per probo magna idque, est veniam exerci appareat no. Sit at amet propriae intellegebat, natum iusto forensibus duo ut. Pro hinc aperiri fabulas ut, probo tractatos euripidis an vis, ignota oblique ut nec. Ad ius munere soluta deterruisset, quot veri id vim, te vel bonorum ornatus persequeris.

Sea stet iudico cetero cu, ut mei ferri mnesarchum, at duo enim vivendum abhorreant. Usu eruditi veritus vivendo ut, ut cibo lucilius inciderint eam, ne hinc discere explicari sea. Nam iusto delicata ne, eam dolore singulis maiestatis ex. Cu eruditi dolorem accusam pri, ea vidisse aliquip forensibus eam, ut erant labore fastidii has. Cum quod saepe periculis ea, eos iuvaret maiorum moderatius eu, pro ferri scaevola mnesarchum ut.


Nisl malis veritus pro no, pro an enim admodum mediocritatem. Ei his graeci option officiis, no oratio vocent efficiendi vix. Eu prima eleifend volutpat ius, mel atomorum omittantur te, quo debet possim habemus no. Et eum aliquip iuvaret dignissim, dicant epicurei vituperata vim eu. Usu dicunt verear deleniti te.

Amet blandit scripserit sit id, ea vim mollis oportere postulant. Nostro suavitate intellegam id mei, mea ex agam quodsi complectitur. Cu eos nibh justo philosophia, no pro velit suscipit philosophia. At est dicit instructior, viderer minimum conceptam no nec, te nec dicta iusto legendos. Duo ex velit vocibus, lucilius quaestio his eu. Cum falli aeterno delicatissimi et, elit justo epicuri has ut.

" Con cua tám cẳng hai càng
   Một mai, hai mắt rõ ràng con cua "


      Ngày xưa, ở phương Nam thì cua đồng được xem là món ăn của những đứa con nhà nghèo. Trong thời hiện đại ngày nay, thì bên cạnh một số món ăn cao lương mỹ vị đắt tiền thì những món ăn làm từ cua đồng đã trở thành những món ăn hấp dẫn đối với những người con Việt. Ăn để thưởng thức ăn để tìm về cội về nguồn.  

                                  
       Cua đồng thuộc lớp giáp xác, bộ mười chân. Cua đồng thường gặp ở nơi nước ngọt, ao, hồ, ruộng, sông, suối. Cua ở hang, hang cua là những ổ tròn sâu đến 3 - 4 tất, nằm theo chân bờ ruộng.  Cua đồng là một món ăn dân dã, bình dị của người Việt Nam và là những món ăn quen thuộc vào những tháng cuối hè đầu thu thời điểm cua béo nhất. Món ăn từ cua thông dụng nhất có lẽ là bún riêu cua, cua đồng luộc chấm muối tiêu chanh kèm rau râm.


                                                
          Những ai đã từng bị mê hoặc bởi những món ăn làm từ cua đồng như là : bún riêu cua, cua nấu canh tạp tàng hay là bánh canh cua thì nay họ sẽ còn bị cám dỗ bởi món " lẩu cua đồng " của miền đất phương nam. Xứ sở của những cánh đồng bao la bát ngát, của những dòng sông trĩu nặng là môi trường thuận lợi để lũ cua sinh sôi và phát triển.


        Món " lẩu cua đồng " có lẽ món ăn nổi bật giữa các món khác vì nó là một bản hòa tấu của các sản vật từ đồng ruộng phương nam. Nó là một món ăn đậm chất đồng quê với những nguyên liệu quen thuộc nhưng lại rất lạ miệng. Ở miền Nam với thời tiết ấm nóng quanh thì " lẩu cua đồng " là một món ăn rất lý tưởng.
Cua đồng phải còn sống, rửa sạch bóc vỏ yếm, gỡ mai nạo lấy gạch cua trong mai, còn lại đưa vào cối dã nát hoặc xay thật nhuyễn. Sau đó hòa cua xay với nước, khuấy lên rồi để thật lắng. Chắt lấy nước cua rồi bỏ xác.
      Nấu nước cua này với một ít muối trên lửa nhỏ cho đến khi chín. Riêu cua sẽ kết tủa đóng thành từng miếng. Để làm lẩu cua đồng phải vớt những mảng cua ấy để riêng.
       Lúc ấy, nước luộc thịt cua đã ngọt lừ đến mức không cần nêm nếm thêm bột ngọt hay đường gì cả chỉ cần cho thêm một ít muối hoặc nước mắm thì coi như nồi nước lẩu đã đạt hương vị tinh túy của thịt cua đồng rồi, phi chút củ hành tím lát mỏng cho vào nồi nước lẩu để tăng thêm mùi hương hấp dẫn và phá đi mùi tanh của các loại thủy hải sản tươi sống ăn kèm như mực, thịt cá phi lê, gan heo, tôm đất. Nước lẩu thơm ngọt đậm đà hương vị đồng quê cùng với rổ rau xanh mồng tơi, bồ ngót, rau má và mướp hương ăn tới đâu lạc dần vào lẩu tới đó đủ thấy khoái vị.
                                                                                                                             
     Được chăm chút từ cái tâm và đôi tay khéo léo của người phụ nữ Nam Bộ " lẩu cua đồng " với vị ngọt của thịt cua, vị ngon béo của gạch cua kết hợp với một số rau đồng nội nữa thì món cua đồng đã trở thành lời mời vô thanh với những thực khách sành ẩm thực. Ăn " lẩu cua đồng " để ta nhớ về quê hương dịu ngọt mà dân dã và dù có đi xa nửa vòng trái đất đi chăng nữa thì vẫn muốn tìm về mà thưởng thức.





Lẩu Cua Đồng


" Con cua tám cẳng hai càng
   Một mai, hai mắt rõ ràng con cua "


      Ngày xưa, ở phương Nam thì cua đồng được xem là món ăn của những đứa con nhà nghèo. Trong thời hiện đại ngày nay, thì bên cạnh một số món ăn cao lương mỹ vị đắt tiền thì những món ăn làm từ cua đồng đã trở thành những món ăn hấp dẫn đối với những người con Việt. Ăn để thưởng thức ăn để tìm về cội về nguồn.  

                                  
       Cua đồng thuộc lớp giáp xác, bộ mười chân. Cua đồng thường gặp ở nơi nước ngọt, ao, hồ, ruộng, sông, suối. Cua ở hang, hang cua là những ổ tròn sâu đến 3 - 4 tất, nằm theo chân bờ ruộng.  Cua đồng là một món ăn dân dã, bình dị của người Việt Nam và là những món ăn quen thuộc vào những tháng cuối hè đầu thu thời điểm cua béo nhất. Món ăn từ cua thông dụng nhất có lẽ là bún riêu cua, cua đồng luộc chấm muối tiêu chanh kèm rau râm.


                                                
          Những ai đã từng bị mê hoặc bởi những món ăn làm từ cua đồng như là : bún riêu cua, cua nấu canh tạp tàng hay là bánh canh cua thì nay họ sẽ còn bị cám dỗ bởi món " lẩu cua đồng " của miền đất phương nam. Xứ sở của những cánh đồng bao la bát ngát, của những dòng sông trĩu nặng là môi trường thuận lợi để lũ cua sinh sôi và phát triển.


        Món " lẩu cua đồng " có lẽ món ăn nổi bật giữa các món khác vì nó là một bản hòa tấu của các sản vật từ đồng ruộng phương nam. Nó là một món ăn đậm chất đồng quê với những nguyên liệu quen thuộc nhưng lại rất lạ miệng. Ở miền Nam với thời tiết ấm nóng quanh thì " lẩu cua đồng " là một món ăn rất lý tưởng.
Cua đồng phải còn sống, rửa sạch bóc vỏ yếm, gỡ mai nạo lấy gạch cua trong mai, còn lại đưa vào cối dã nát hoặc xay thật nhuyễn. Sau đó hòa cua xay với nước, khuấy lên rồi để thật lắng. Chắt lấy nước cua rồi bỏ xác.
      Nấu nước cua này với một ít muối trên lửa nhỏ cho đến khi chín. Riêu cua sẽ kết tủa đóng thành từng miếng. Để làm lẩu cua đồng phải vớt những mảng cua ấy để riêng.
       Lúc ấy, nước luộc thịt cua đã ngọt lừ đến mức không cần nêm nếm thêm bột ngọt hay đường gì cả chỉ cần cho thêm một ít muối hoặc nước mắm thì coi như nồi nước lẩu đã đạt hương vị tinh túy của thịt cua đồng rồi, phi chút củ hành tím lát mỏng cho vào nồi nước lẩu để tăng thêm mùi hương hấp dẫn và phá đi mùi tanh của các loại thủy hải sản tươi sống ăn kèm như mực, thịt cá phi lê, gan heo, tôm đất. Nước lẩu thơm ngọt đậm đà hương vị đồng quê cùng với rổ rau xanh mồng tơi, bồ ngót, rau má và mướp hương ăn tới đâu lạc dần vào lẩu tới đó đủ thấy khoái vị.
                                                                                                                             
     Được chăm chút từ cái tâm và đôi tay khéo léo của người phụ nữ Nam Bộ " lẩu cua đồng " với vị ngọt của thịt cua, vị ngon béo của gạch cua kết hợp với một số rau đồng nội nữa thì món cua đồng đã trở thành lời mời vô thanh với những thực khách sành ẩm thực. Ăn " lẩu cua đồng " để ta nhớ về quê hương dịu ngọt mà dân dã và dù có đi xa nửa vòng trái đất đi chăng nữa thì vẫn muốn tìm về mà thưởng thức.





Apr 2, 2012



Về Miền Tây - Cẩm Ly ft. Quốc Đại

Miền Cần Thơ gạo trắng nước trong, vui niềm vui ấm no cuộc sống.
Miền Đồng Tháp ruộng lúa mênh mông, yêu tình yêu thắm duyên mặn nồng.
Ai qua Tiền Giang xuống phà Mỹ Thuận.
Ai đi Hậu Giang đến bắc Cần Thơ.
Đi về Minh Hải hay đi về Kiên Giang.
Đi về Sa Đéc hay là về An Giang.
Miền Tây ơi! Vựa lúc miền nam hai mùa mưa nắng.
Miền Tây ơi! Sông nước Cửu Long chín nhánh phù sa,
Đất lành khắp chốn nở hoa vun bồi mạch sống mượt mà môi em.
Vầng trăng lên theo bước chân đi, qua đường quê mấy nhịp cầu tre.
Hàng cây xanh in bóng nghiêng che, quanh vườn ao đóm khuya lập lòe.
Ai đi miền xa nhớ về quê nhà.
Thăm con đường xưa bến cũ miền Tây.
Tiếng cười giọng nói trong có tình thân thương, câu hò câu hát nghe dạt dào quê









Người Miền Tây



Về Miền Tây - Cẩm Ly ft. Quốc Đại

Miền Cần Thơ gạo trắng nước trong, vui niềm vui ấm no cuộc sống.
Miền Đồng Tháp ruộng lúa mênh mông, yêu tình yêu thắm duyên mặn nồng.
Ai qua Tiền Giang xuống phà Mỹ Thuận.
Ai đi Hậu Giang đến bắc Cần Thơ.
Đi về Minh Hải hay đi về Kiên Giang.
Đi về Sa Đéc hay là về An Giang.
Miền Tây ơi! Vựa lúc miền nam hai mùa mưa nắng.
Miền Tây ơi! Sông nước Cửu Long chín nhánh phù sa,
Đất lành khắp chốn nở hoa vun bồi mạch sống mượt mà môi em.
Vầng trăng lên theo bước chân đi, qua đường quê mấy nhịp cầu tre.
Hàng cây xanh in bóng nghiêng che, quanh vườn ao đóm khuya lập lòe.
Ai đi miền xa nhớ về quê nhà.
Thăm con đường xưa bến cũ miền Tây.
Tiếng cười giọng nói trong có tình thân thương, câu hò câu hát nghe dạt dào quê









Apr 1, 2012

“Ruộng đồng mặc sức chim bay  Biển hồ lênh láng mặc bầy cá đua”
Ra giêng là thời điểm nhiều cánh đồng ở khắp ĐBSCL vào mùa gặt. Màu vàng của lúa chín trải dài từ những tỉnh tả ngạn sông Cửu Long như Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp cho đến Hậu Giang, Bạc Liêu và tận đất mũi Cà Mau.

Vào cuối mùa hạn này, nước trên các ruộng lúa đã rút xuống các con mương xung quanh, nhường lại nền đất khá khô cứng đủ để những chiếc máy gặt đập liên hợp "ra tay".

Chính trong những con mương này là "đất dụng võ" cho các tay nhấp cá lóc múa may cây cần câu của mình. Nhưng không phải tay câu nào cũng lủng lẳng chiến lợi phẩm vì từ lâu loài cá đồng này đã không còn nhiều trên đồng ruộng để thỏa mãn cái thú câu ấy nữa. Tuy nhiên, ở xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời của vùng đất Cà Mau thì cá lóc lại đặc biệt phong phú.

mùa lúa chín

ruộng lúa mới cắt

Một tay câu lành nghề có thể kiếm 4, 5 con cá lóc chỉ trong 2 tiếng đồng hồ ôm cần cùng vài ba con nhái bén làm mồi. Nói lành nghề vì cá lóc là loài cá rất khôn ngoan, thấy mồi câu không bao giờ đớp liền như các loài cá khác mà nó "quan sát, đánh giá" con mồi rồi mới ra quyết định.

Vì vậy, để câu được cá lóc, người câu phải nhấp nhấp con nhái mồi sao cho thật giống với dáng bơi của nó khi còn sống, mặc dù chàng nhái đã chết từ khi bị móc vào lưỡi câu làm mồi. Có như thế thì mới mong dụ được cá lóc đồng ra khỏi hang ổ của nó, và một khi đã bị quyến rũ rồi thì loài này ăn mồi rất bạo, luôn luôn nuốt chửng chứ không hề rỉa.

Và thật may mắn vì bản thân tác giả đã có dịp chứng kiến và ghi lại những hình ảnh sống động của việc nhấp dính một con cá lóc. Tay câu thậm chí còn ra hiệu khi cá sắp cắn câu, để tôi chuẩn bị "chộp" cảnh cá quậy trắng nước này.

cá cắn câu

cá cắn câu

Cái ngon của cá lóc đồng chỉ được cảm nhận một cách trọn vẹn khi cá được nướng trong rơm khô và bày trên tàu lá chuối. Cá lóc được xiên từ răng đến tận đuôi bằng một cành tre nhọn. Tre xiên cá phải là tre tươi thì nước trong thân tre mới giữ nó không cháy thành than khi bị đốt giữa ngọn lửa hừng hực của rơm khô. Thêm vào đó, đầu cá lóc phải được cắm xuống đất vì phần đầu và bụng cá là khó chín nhất. Ngoài ra, phải ủ cá trong than rơm sau khi lửa đã tắt một lúc lâu thì bộ lòng cá mới đạt độ chín cần thiết.

Sau khi rơm tàn, cá lóc được khéo léo lấy ra và đặt vào một tàu lá chuối tươi. Lúc này người nướng cá phải ra tay cạo vẩy khét thật nhanh và thật đều thì mới mong ăn được bộ da cá lóc. Nếu để mất cái nóng ngoài da thì vẩy khét sẽ mất độ giòn và dính chặt vào da cá, khiến việc cạo hết phần khét là không thể. Mấy tay "hai lúa" phong lưu này còn chỉ cho tôi biết một "tuyệt chiêu" khác: cạo khét bằng rơm khô. Một bó rơm khô có đủ độ nhám nhưng mềm mại vừa phải để không làm tróc da cá. Tới đây thì chỉ cần thêm một tí muối ớt làm gia vị là mọi thứ đã sẵn sàng cho một bữa tiệc thấm đẫm chất quê Nam bộ.

cá lóc nướng trui
cá lóc nướng trui
cá lóc nướng trui
cá lóc nướng trui

Làm sạch cá nướng
Làm sạch cá nướng

lai rai và sị

 Bước cuối cùng là chén thôi !!

Cá Lóc Nướng Trui

“Ruộng đồng mặc sức chim bay  Biển hồ lênh láng mặc bầy cá đua”
Ra giêng là thời điểm nhiều cánh đồng ở khắp ĐBSCL vào mùa gặt. Màu vàng của lúa chín trải dài từ những tỉnh tả ngạn sông Cửu Long như Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp cho đến Hậu Giang, Bạc Liêu và tận đất mũi Cà Mau.

Vào cuối mùa hạn này, nước trên các ruộng lúa đã rút xuống các con mương xung quanh, nhường lại nền đất khá khô cứng đủ để những chiếc máy gặt đập liên hợp "ra tay".

Chính trong những con mương này là "đất dụng võ" cho các tay nhấp cá lóc múa may cây cần câu của mình. Nhưng không phải tay câu nào cũng lủng lẳng chiến lợi phẩm vì từ lâu loài cá đồng này đã không còn nhiều trên đồng ruộng để thỏa mãn cái thú câu ấy nữa. Tuy nhiên, ở xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời của vùng đất Cà Mau thì cá lóc lại đặc biệt phong phú.

mùa lúa chín

ruộng lúa mới cắt

Một tay câu lành nghề có thể kiếm 4, 5 con cá lóc chỉ trong 2 tiếng đồng hồ ôm cần cùng vài ba con nhái bén làm mồi. Nói lành nghề vì cá lóc là loài cá rất khôn ngoan, thấy mồi câu không bao giờ đớp liền như các loài cá khác mà nó "quan sát, đánh giá" con mồi rồi mới ra quyết định.

Vì vậy, để câu được cá lóc, người câu phải nhấp nhấp con nhái mồi sao cho thật giống với dáng bơi của nó khi còn sống, mặc dù chàng nhái đã chết từ khi bị móc vào lưỡi câu làm mồi. Có như thế thì mới mong dụ được cá lóc đồng ra khỏi hang ổ của nó, và một khi đã bị quyến rũ rồi thì loài này ăn mồi rất bạo, luôn luôn nuốt chửng chứ không hề rỉa.

Và thật may mắn vì bản thân tác giả đã có dịp chứng kiến và ghi lại những hình ảnh sống động của việc nhấp dính một con cá lóc. Tay câu thậm chí còn ra hiệu khi cá sắp cắn câu, để tôi chuẩn bị "chộp" cảnh cá quậy trắng nước này.

cá cắn câu

cá cắn câu

Cái ngon của cá lóc đồng chỉ được cảm nhận một cách trọn vẹn khi cá được nướng trong rơm khô và bày trên tàu lá chuối. Cá lóc được xiên từ răng đến tận đuôi bằng một cành tre nhọn. Tre xiên cá phải là tre tươi thì nước trong thân tre mới giữ nó không cháy thành than khi bị đốt giữa ngọn lửa hừng hực của rơm khô. Thêm vào đó, đầu cá lóc phải được cắm xuống đất vì phần đầu và bụng cá là khó chín nhất. Ngoài ra, phải ủ cá trong than rơm sau khi lửa đã tắt một lúc lâu thì bộ lòng cá mới đạt độ chín cần thiết.

Sau khi rơm tàn, cá lóc được khéo léo lấy ra và đặt vào một tàu lá chuối tươi. Lúc này người nướng cá phải ra tay cạo vẩy khét thật nhanh và thật đều thì mới mong ăn được bộ da cá lóc. Nếu để mất cái nóng ngoài da thì vẩy khét sẽ mất độ giòn và dính chặt vào da cá, khiến việc cạo hết phần khét là không thể. Mấy tay "hai lúa" phong lưu này còn chỉ cho tôi biết một "tuyệt chiêu" khác: cạo khét bằng rơm khô. Một bó rơm khô có đủ độ nhám nhưng mềm mại vừa phải để không làm tróc da cá. Tới đây thì chỉ cần thêm một tí muối ớt làm gia vị là mọi thứ đã sẵn sàng cho một bữa tiệc thấm đẫm chất quê Nam bộ.

cá lóc nướng trui
cá lóc nướng trui
cá lóc nướng trui
cá lóc nướng trui

Làm sạch cá nướng
Làm sạch cá nướng

lai rai và sị

 Bước cuối cùng là chén thôi !!